Trần Vũ Minh lần thứ 2 đăng ký mua 5 triệu cổ phiếu HPG

Thông tin mới nhất được Tập đoàn Hòa Phát (HPG) công bố, ông Trần Vũ Minh, con trai Chủ tịch HĐQT Trần Đình Long, đăng ký mua 5 triệu cổ phiếu HPG từ ngày 18/8 đến 16/9/2021, theo thỏa thuận mua từ ông Nguyễn Văn Kiều trên HoSE.

Hiện ông Minh đang sở hữu 64,8 triệu cổ phiếu HPG (tỷ lệ 1,45%). Dự kiến ​​sau giao dịch, số cổ phiếu do con trai Chủ tịch nắm giữ sẽ tăng lên xấp xỉ 70 triệu cổ phiếu, tương đương 1,56% vốn HPG.

Theo đó, nhóm cổ đông là gia đình ông Trần Đình Long sẽ nắm giữ thành công 1.566.437.000 cổ phiếu HPG, chiếm 35,02% vốn – đồng nghĩa với việc nắm giữ quyền phủ quyết của Tập đoàn.

Trước đó, ông Minh đăng ký mua số lượng cổ phiếu tương đương từ ngày 21/5 đến 18/6/2021; Tuy nhiên, nó đã bị Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) dừng do giao dịch đăng ký chưa xác định được người nhận chuyển nhượng theo quy định của Luật Chứng khoán 2019.

Hòa Phát buộc phải lấy ý kiến ​​cổ đông bằng văn bản, mục đích xác định rõ đối tượng chuyển nhượng, nhận cổ phần trong giao dịch dẫn đến tỷ lệ sở hữu của nhóm liên quan vượt quá 35% số cổ phần. trong giao dịch. quyền biểu quyết mà không phải đấu thầu công khai. Tập đoàn dự kiến ​​chốt danh sách cổ đông để lấy ý kiến ​​vào ngày 28/6 và thời gian thực hiện là ngày 8/7.

Trên thị trường, giá cổ phiếu HPG chốt phiên 12/8 giảm 0,55 điểm xuống 48.400 đồng / cổ phiếu; Lượng cổ phiếu sắp chuyển nhượng khoảng 242 tỷ đồng.

‘Học’ các công ty Trung Quốc cài game vào ứng dụng giao hàng, Loship tự tin sẽ thành công, chuẩn bị IPO trên sàn Mỹ

Startup giao hàng Loship nhắm tới việc trở thành công ty Việt Nam đầu tiên niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Mỹ trong hơn 1 thập kỷ gần đây.

Vừa nhận khoản vốn 12 triệu USD từ vòng gọi vốn mới nhất trong đó dẫn đầu có cả BAce Capital – quỹ đầu tư được chống lưng bởi tập đoàn Ant Group, Loship nói rằng họ kỳ vọng có thể IPO trong năm 2024, sau khi có lãi trong vòng 18 – 24 tháng.

Khi các startup công nghệ Trung Quốc đang chịu sự kiểm soát mạnh tay của chính phủ Trung Quốc, dòng tiền của các nhà đầu tư đang chảy vào Đông Nam Á và Ấn Độ khiến các startup vẫn đang thua lỗ như Grab hay Zomato được định giá cao kỷ lục.

Loship đã thu hút được 2 triệu khách hàng tại Việt Nam nhưng họ cũng đang phải đối mặt với sự cạnh tranh vô cùng khốc liệt.

CEO Nguyễn Hoàng Trung – đồng sáng lập công ty từ 4 năm trước tự tin rằng Loship sẽ vượt qua giai đoạn khủng hoảng dịch bệnh lần này và sau đó mở rộng hơn bằng việc nhắm tới các đơn hàng với biên lợi nhuận cao hơn và sao chép chiến lược của các công ty Internet Trung Quốc.

Ở Việt Nam, một đất nước với 98 triệu dân, Loship đối mặt với khoảng hơn 12 đối thủ cạnh tranh từ AhaMove tới Gojek, Grab.

“Chúng tôi thiếu tài xế nhưng các đối thủ cũng gặp tình trạng như vậy. Đây là cơ hội để chúng tôi vượt lên trong trận chiến”.

Vị CEO 29 tuổi so sánh trận chiến trong lĩnh vực giao hàng như một giải đua xe. Khi các tài xế gặp phải phần thi khó nhất là những khúc cua thì người giỏi nhất sẽ vượt lên”.

Bên cạnh BAce Capital, Loship cũng đã thực hiện vòng gọi vốn Series C vào tuần trước do Sun Hung Kai & Co., công ty niêm yết tại Hồng Kông đồng dẫn đầu. Những nguồn vốn khác đến từ các nhà đầu tư gồm cả Starbucks và BNP Paribas. Theo báo cáo của DealStreetAsia, vòng đàm phán này đã định giá Loship là 100 triệu USD. Tuy nhiên, CEO Trung từ chối xác nhận con số này.

Tờ Nikkei nhận định, những gã khổng lồ giao hàng trong khu vực đang cố gắng hâm nóng thị trường chứng khoán Mỹ. Gojek của Indonesia cũng đang lên kế hoạch IPO trong khi Grab của Singapore cũng thông báo sẽ hợp nhất với công ty SPAC Altimeter Growth để được niêm yết trên Nasdaq. Tuy nhiên, Grab đã phải lùi kế hoạch này vào cuối năm 2021 do các yêu cầu quy định mới.

Công ty Việt Nam đầu tiên IPO ở Mỹ là Cavico vốn kinh doanh trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng. Tuy nhiên, họ đã bị xóa tên khỏi Nasdaq vì chậm thời hạn nộp hồ sơ chứng khoán vào năm 2011, chưa đầy hai năm sau khi IPO.

VNG, một gã khổng lồ trong lĩnh vực game và nhắn tin, đang phấn đấu trở thành công ty niêm yết tiếp theo của Việt Nam tại Mỹ. Tuy nhiên, công ty này đã im hơi lặng tiếng kể từ khi bắt đầu đàm phán với Nasdaq vào năm 2017. Gần đây, nguồn tin của DealStreetAsia cho biết một công ty SPAC có trụ sở tại Mỹ đã tiếp cận Tiki.

CEO Trung cho biết đại dịch đã thúc đẩy nhiều người dùng lần đầu sử dụng Internet và anh tin rằng họ sẽ tiếp tục sử dụng ứng dụng Loship sau khi dịch Covid-19 biến mất.

Phần lớn hoạt động kinh doanh của Loship hiện nay đến từ việc giao hàng tạp hóa và đồ ăn trưa đóng hộp. Họ cũng vận chuyển hoa, thuốc và các mặt hàng có lợi nhuận cao khác từ nhà kho đến người mua hàng.

Một chiến lược tăng trưởng khác được đề xuất bởi BAce Capital – quỹ đầu tư có một số lãnh đạo là sếp từ Alibaba Group và Ant Group. Dựa trên kiến ​​thức của họ về các xu hướng diễn ra ở Trung Quốc, Loship đã thêm một trò chơi vào ứng dụng của mình, giống như việc Pinduoduo của Trung Quốc đã thêm trò chơi vào nền tảng thương mại điện tử của mình.

CEO Trung đã ví loại hình đa chức năng này giống như một siêu thị, nơi người mua hàng có thể “lang thang” dù không biết mình sẽ mua gì. Người dùng Loship có thể ban đầu chỉ mở ứng dụng lên với mục đích chơi trò chơi, không phải mua sắm, nhưng cuối cùng họ lại mua hàng. Ví điện tử lớn nhất Việt Nam, MoMo, cũng đang thực hiện theo chiến lược tương tự.

“Những gì đã xảy ra ở thị trường Trung Quốc cũng có thể sẽ xảy ra ở Việt Nam”, CEO Trung nói.

Cơn khát trái phiếu doanh nghiệp: “Bom” nổ chậm?

Dù không thước đo tín nhiệm, các điều kiện “bảo lãnh” mù mờ nhưng người mua kẻ bán trái phiếu doanh nghiệp vẫn hân hoan…

Riêng tháng 7/2019, lượng trái phiếu doanh nghiệp hút tới 6.764 tỷ đồng và 300 triệu USD, con số này của 6 tháng trước là trên 116 nghìn tỷ đồng. Dù không thước đo tín nhiệm, các điều kiện “bảo lãnh” mù mờ nhưng người mua kẻ bán vẫn hân hoan.

Con số trên được cập nhật bởi Hiệp hội thị trường trái phiếu Việt Nam (VBMA); còn tính chung 6 tháng đầu năm 2019, số liệu từ Bộ Tài chính cho thấy, tổng lượng trái phiếu doanh nghiệp đạt 116.085 tỷ đồng, tăng 74% so với cùng kỳ.

Đưa “giấy” là lấy tiền?

Còn tính từ khi Nghị định 163/2018/NĐ – CP của Chính phủ về phát hành trái phiếu doanh nghiệp (ban hành 4/12/2018, hiệu lực 1/2/2019), gần như tuần nào cũng có đợt phát hành mới. Trong đó, lượng trái phiếu được phát hành bởi khu vực ngân hàng đạt 36.700 tỷ (36%), bất động sản 22.122 tỷ (19%), công ty chứng khoán 3,5% và 41,5% là của các nhóm ngành khác.

Theo VBMA, trong tháng 7/2019, có 23 doanh nghiệp phát hành trái phiếu thì chỉ có 1 đơn vị không thành công là Công ty Cổ phần Đầu tư Đường Mặt Trời. Đây là loại trái phiếu phát hành riêng lẻ.

Phát hành nhiều nhất trong tháng này (không tính khu vực ngân hàng, chứng khoán), chính là đại gia Công ty ĐT & PT Du lịch Phú Quốc với 1.710 tỷ đồng, được chia thành nhiều đợt. Kế đến là Công ty Cổ phần Khu Du lịch Bắc Mỹ An, chỉ trong 1 đợt, phát hành thành công 1.000 tỷ đồng (xấp xỉ 15%).

Đáng chú ý, hầu hết lãi suất trái phiếu doanh nghiệp đều cao ngất ngưởng, như thể nước trong cơn khát. Đơn cử, Công ty TNHH Mặt trời Sông Hàn phát hành 2 đợt, mỗi đợt 100 tỷ, kỳ hạn 5 năm, lãi suất cố định 2 năm đầu là 10%/năm, sau đó là lãi suất thả nổi bằng lãi suất tiết kiệm 5 năm của VPBank + 2,25%/năm. Công ty Cổ phần Đầu tư Thành Thành Công phát hành kỳ hạn 2 năm thì lãi suất cố định chốt luôn 12%/năm.

Công ty ĐT & PT Du lịch Phú Quốc, phát hành cả 1.710 tỷ đồng, kỳ hạn 3 năm thì đều lãi suất 10%/năm 1 năm đầu, 2 năm còn lại là lãi suất thả nổi tương ứng bình quân lãi suất tiết kiệm 4 ngân hàng lớn (theo thông lệ là nhóm 4 ngân hàng nhà nước chi phối vốn – PV) + 4%/năm.

Còn theo bản cập nhật của Trung tâm Nghiên cứu MSB, lãi suất trái phiếu cao hơn lãi suất cho vay trung dài hạn của ngân hàng từ 0,5% – 1%, cá biệt có doanh nghiệp bất động sản huy động lãi suất từ 12% – 14%. Thậm chí, Công ty Phát triển Bất động sản Phát Đạt phát hành trái phiếu lãi suất tới 14,5%.

Cũng theo trung tâm này, đến cuối tháng 6/2019 quy mô trái phiếu doanh nghiệp có mức vốn hoá bằng 10,22% GDP, tăng 21% so với cùng kỳ; trong khi, mục tiêu đến năm 2020 là 7% GDP.

Rất nhiều chuyên gia dự báo rằng, trong vài năm tới, tăng trưởng của thị trường trái phiếu sẽ đạt 30% – 40% so với hiện nay.

Với mức lãi suất nêu trên, huy động vốn và phát hành trái phiếu tăng vốn cấp 2 ở các ngân hàng thương mại gặp không ít khó khăn, đặc biệt là nhóm ngân hàng thương mại nhà nước chi phối vốn.

Hiện tại, Agribank đang chào phát hành 5.000 tỷ đồng trái phiếu, kỳ hạn 7 năm, lãi suất 8,1%/năm để đáp ứng đủ hệ số an toàn vốn tối thiểu, kịp phục vụ nhu cầu tín dụng vụ thu đông và đông xuân. Một phó tổng giám đốc ngân hàng này phàn nàn với phóng viên VnEconomy: “Các doanh nghiệp chào lãi suất như vậy thì ngân hàng không thể nào cạnh tranh nổi cả huy động vốn lẫn phát hành trái phiếu tăng vốn”.

Nguồn: Trung tâm Nghiên cứu Ngân hàng MSB.

Phiên bản mới của “sân sau”

Một nhân lực chủ chốt về quản trị rủi ro ở một ngân hàng (đã đạt chuẩn basel II), với công việc thường ngày là đánh giá và đưa ra khuyến cáo đối với ban điều hành các thương vụ phát hành trái phiếu doanh nghiệp cho VnEconomy biết, ông buộc phải rời bỏ ngân hàng.

Lý do là rủi ro quá lớn khi thường xuyên phải ký vào hàng loạt báo cáo đánh giá tích cực với các thương vụ phát hành trái phiếu của các tập đoàn kinh tế tư nhân hàng đầu.

Ông kể: Một tập đoàn rất lớn (tạm gọi là A) “rất thân” với một ngân hàng đối tác (tạm gọi là B) muốn phát hành một lô trái phiếu 1.000 tỷ đồng, A đã thông qua C (là công ty chứng khoán của B) với bản hợp đồng: bảo lãnh phát hành; nghĩa là, hợp đồng đảm bảo cho A phát hành thành công cận trên của ham muốn và dĩ nhiên, không đồng nghĩa bảo lãnh thanh toán đối với người mua.

Trước hết, C sẽ tư vấn cho A rằng, với một lô lớn như vậy, sẽ cân nhắc tình hình thị trường để phát hành một đợt hay chia thành nhiều đợt.

Tiếp đó, trong trường hợp phát hành lô 1.000 tỷ đồng trong 1 đợt, C sẽ dành ra 200 tỷ bán hoặc ký gửi cho công ty quản lý quỹ (cũng thuộc ngân hàng B) hoặc công ty chứng khoán khác là đối tác (buôn có bạn, bán có phường).

Với 800 tỷ còn lại, C xé lẻ ra thành nhiều món, mỗi món tương ứng khoảng vài trăm triệu đồng để bán cho những nhà đầu tư cá nhân thông qua hệ thống chi nhánh, phòng giao dịch của ngân hàng mẹ B.

Trong trường hợp số hàng “ký gửi” cho công ty quản lý quỹ, đối tác không tiêu thụ được, C lại mang về bán tiếp sau khi chịu hao tổn một ít phí. Một câu hỏi đặt ra, C lấy tiền ở đâu, ông này cho biết, tiền có thể của C (vốn, các quỹ…), thậm chí, nếu cần số lượng tiền lớn vượt khả năng ôm của C thì ngân hàng mẹ B sẽ bơm sang với một ít bút toán rất đơn giản. Cũng có trường hợp, ngân hàng mẹ B sẽ ôm đỡ cho C một cơ số nhất định.

Hiện tại, Ngân hàng Nhà nước đang gắt gao việc đẩy tín dụng trá hình qua kênh trái phiếu. Tuy việc kiểm tra này không đến mức “xuân thu nhị kỳ”, không thường xuyên, không bất thình lình và nhất là đã được mặc định vào ngày cuối tháng, quý hay 31/12; cho nên, trước hạn báo cáo sổ sách chừng vài ngày, ngân hàng B đẩy hết hàng về cho C là sạch sổ.

“Phải kiểm tra bất thường như kiểm quỹ tiền mặt trong két thì mới chỉ tận tay day tận mặt ngân hàng mẹ đã tiếp tay cho công ty chứng khoán con như thế nào trong việc phát hành trái phiếu doanh nghiệp. Những cái gọi là hạn mức, tỷ lệ đều có thể che mắt”, ông này nói với VnEconomy.

Có vẻ như, kể từ 2012, khi Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước mở cuộc tiến công vào sở hữu chéo, dẹp trừ các cặp sân sau của các ngân hàng, những tưởng đã xong thì nay, lại một dạng sân sau phiên bản mới xuất hiện.

Khi phát hành thành công, doanh nghiệp hút được vốn mà thủ tục nhanh, trong khi ngân hàng, công ty chứng khoán thu được phí, nên cả thị trường say sưa trong tuần trăng mật.

Soi vào 23 doanh nghiệp phát hành trong tháng 7/2019, cho thấy, phần lớn là doanh nghiệp bất động sản, chủ yếu dành cho các dự án phân khúc cao cấp; còn thống kê từ khi Nghị định 163 có hiệu lực (tháng 2/2019) thì nhóm ngành bất động sản chiếm tới 19% tổng doanh số phát hành.

Đặc biệt, trong số 23 doanh nghiệp nêu trên, ngoài các ngân hàng, công ty chứng khoán và Công ty Cổ phần Du lịch Bắc Mỹ An là phát hành “không có tài sản đảm bảo”; hầu hết các doanh nghiệp khác đều ghi là “có tài sản đảm bảo” và/hoặc “có bảo lãnh thanh toán”.

Vị chuyên gia quản trị rủi ro ở ngân hàng B (nêu trên) phân tích: với trường hợp có tài sản bảo đảm thì doanh nghiệp phát hành dùng luôn tài sản hình thành từ vốn phát hành, cộng với các tài sản khác (cổ phiếu của mình) để làm tài sản bảo đảm; giá trị tài sản bảo đảm có khi lên tới 200% so với doanh số phát hành (chẳng hạn, phát hành 1.000 tỷ thì giá trị tài sản bảo đảm 2.000 tỷ).

Vì vậy, đối với “bảo lãnh thanh toán”, những câu hỏi: ai thanh toán, thanh toán một lần hay nhiều lần, mức độ ưu tiên của chủ nợ (trái chủ)… khi doanh nghiệp vỡ nợ, không mấy trái chủ quan tâm.

Trên thực tế, Ngân hàng Nhà nước không cho phép ngân hàng bảo lãnh thanh toán với trái phiếu doanh nghiệp nhằm tránh tín dụng trá hình qua kênh này.

“Siết tín dụng bất động sản để bảo vệ ngân hàng nhưng bất động sản vẫn tìm vốn một phần ở ngân hàng, một phần ở các nhà đầu tư khác và với cách thức như nêu trên, chỉ là chuyển rủi ro từ chỗ này sang chỗ kia”, vị chuyên gia trên kết lại.